0983 019 109

Văn phòng luật sư uy tín tại Việt Nam.

Tư vấn luật Hôn nhân và gia đình

Luật sư Văn phòng luật sư Dragon Tư vấn luật Hôn nhân và gia đình

Kh hỏi : Tư vấn luật về phân chia tài sản

Xin luật sư giúp tôi giải đáp thắc mắc.

Bố mẹ chồng tôi sống ly thân, nay bố chồng tôi có người phụ nữ khác và muốn ở với người đó nhưng không ly hôn với mẹ. Phần tài sản chung của 2 người bao gồm nhà cửa và các tài sản có giá trị khác do mẹ chồng tôi đứng tên. Bố mẹ chồng tôi nhất trí làm di chúc để lại toàn bộ tài sản của 2 người cho con trai. Nếu sau khi đã làm di chúc xong bố chồng tôi có con riêng với người phụ nữ đó thì đứa con đó có được chia tài sản của bố chồng tôi không? Nếu bố mẹ chồng tôi ly hôn và cả 2 bố mẹ đã làm di chúc để lại toàn bộ tài sản cho con trai mà bố chồng tôi lấy người phụ nữ đó và có con riêng thì con riêng của bố chồng tôi có được chia tài sản không? Rất mong luật sư cho tôi câu trả lời sớm nhất. Chân thành cảm ơn!

Văn phòng Luật sư Dragon xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý

  • Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005. Người không được quyền hưởng di sản

“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”

  • Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005. Di chúc

“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”

  • Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005.Người lập di chúc

« 1. Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý ».

  • Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2005.Quyền của người lập di chúc

« Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.”

  • Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2005.Hình thức của di chúc

“Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình”.

  • Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005. Di chúc hợp pháp

« 1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực ».

  • Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2005. Nội dung của di chúc bằng văn bản

“1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”.

  • Điều 668 Bộ luật dân sự năm 2005. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng

« Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết. »

  • Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

« Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.

  • Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Người thừa kế theo pháp luật

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

2. Ý kiến tư vấn

Trong trường hợp của bạn, mặc dù phần tài sản chung của bố mẹ chồng bạn chỉ đứng tên mẹ chồng bạn nhưng nó vẫn thuộc sở hữu chung của cả hai người.

Nếu bố mẹ chồng bạn đã nhất trí để lại tài sản chung của mình cho 2 người con trai thì chỉ 2 người con trai đó có quyền hưởng. Còn người con riêng của bố bạn không có tên trong di chúc thì sẽ không được hưởng phần tài sản chung của bố mẹ chồng bạn.

Trong trường hợp bố mẹ chồng bạn ly hôn thì về nguyên ta tài sản chung của bố mẹ chồng bạn sẽ được chia đôi. Và bố mẹ chồng bạn hoàn toàn có quyền để lại tài sản của mình cho ai. Nếu cả bố mẹ chồng bạn đều nhất trí làm di chúc riêng của từng người để lại tài sản cho 2 người con trai chung thì chỉ 2 người đó được hưởng tài sản thuộc sở hữu của bố mẹ chồng bạn. Còn người con riêng của bố chồng bạn chỉ được hưởng phần tài sản riêng của bố chồng bạn nếu bố chồng bạn đồng ý làm di chúc để tại 1 phần tài sản riêng của mình cho người con riêng ấy.

Chỉ trong trường hợp bố chồng bạn chết không để lại di chúc của riêng bố chồng bạn thì người con riêng của bố chồng bạn là thuộc hàng thừa kế thứ nhất mới có quyền hưởng phần tài sản riêng của bố chồng bạn (đã được chia khi bố chồng bạn ly hôn) hoặc người con riêng của bố chồng bạn đã thành niên nhưng không có khả năng lao động hoặc là người chưa thành niên thì mặc dù trong di chúc bố chồng bạn không để lại tài sản riêng của ông cho người đó nhưng theo quy định của pháp luật người con riêng đó vẫn có quyền được hưởng.

Cần tư vấn hoặc trao đổi cụ thể mời anh chị trực tiếp liên hệ với Công ty Luật Dragon.

Trân trọng!

CÔNG TY LUẬT DRAGON