Bạn đang xem: Công ty Luật Dragon » Tư vấn đầu tư » Tư vấn luật lao động khi quyết định xin về hưu sớm

Câu hỏi luật sư dragon:

Tôi sinh tháng 10 năm 1957, làm việc liên tục từ tháng 9 năm 1981 đến tháng 10 năm 1993 tại cơ quan nhà nước. Sau đó tôi chuyển sang làm việc liên tục từ tháng 10 năm 1993 trong khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho đến tháng 6 năm 2011. Vào năm 1998 tôi bị tai biến mạch máu não nên sức khỏe suy giảm, nhưng vẫn tiếp tục làm việc cho đến tháng 6 năm 2011. Như vậy tôi đã công tác liên tục được gần 30 năm. Nay vì cảm thấy sức khỏe không được tốt, tôi quyết định xin về hưu sớm tính từ tháng 6 năm 2011.

Xin quý công ty tư vấn cho tôi về thủ tục và quyền lợi khi xin nghỉ hưu sớm và phí tư vấn cùng phương thức thanh toán.

Xin trân trọng cám ơn,

Thay mặt Ban tư vấn Công ty Luật Dragon xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội. Điều kiện hưởng lương hưu

“1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;

b) Nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.”

Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

“Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;

2. Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.”

Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội. Mức lương hưu hằng tháng

“1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

2. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 51 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%”.

Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu

“1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

b) Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

c) Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

d) Ra nước ngoài để định cư.

2. Người lao động quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật này được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu”.

Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần

“Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội”.

Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội.

“Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995

1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của năm năm cuối trước khi nghỉ hưu.

2. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này”.

Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội.

“Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến trước ngày Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực

1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:

a) Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu năm cuối trước khi nghỉ hưu;

b) Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tám năm cuối trước khi nghỉ hưu.

2. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này”.

Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội.

“Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực

1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của mười năm cuối trước khi nghỉ hưu.

2. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này.”

2. Ý kiến tư vấn

Bác sinh năm 1957, tức là hiện nay bác mới 55 tuổi.

Trong trường hợp của bác, do bác không nói rõ bác là nam hay nữ, thời gian bác tham gia đóng bảo hiểm xã hội của bác là khi nào, đến nay đã được bao nhiêu năm, khi bác bị tai biến mạch máu não thì suy giảm sức khỏe là bao nhiêu phần trăm nên chúng tôi chia làm các trường hợp sau:

-         Trường hợp 1, nếu bác là nữ (đã đủ 55 tuổi), đã đóng bảo hiểm đủ 20 năm thì bác có đủ điều kiện hưởng lương hưu. Mức lương hưu quy định tại điều 52 Luật BHXH.

-         Nếu bác là nữ ( đã đủ 55 tuổi), chưa đóng BHXH đủ 20 năm thì bác không đủ điều kiện hưởng lương hưu mà chỉ được hưởng chế độ BHXH một lần. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội ( theo điều 56 Luật BHXH)

-         Nếu bác là nữ, đã đủ 45 tuổi, đóng BHXH đủ 20 năm bị suy giảm khả năng lao động 61% trở lên thì bác mới có đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại điều 51 Luật BHXH, với mức lương hưu thấp hơn so với mức lương hưu của những người lao động bình thường.

-         Nếu bác là nam (chưa đủ 60 tuổi), đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm thì không được hưởng lương hưu.

-         Nếu bác là nam (chưa đủ 60 tuổi) nhưng đủ 55 tuổi, đã đóng BHXH đủ 20 năm và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm lao động, lương hưu với mức thấp hơn mức lương hưu của người lao động bình thường.

Trường hợp bác nghỉ hưu sớm do suy giảm khả năng lao động thì mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ được tính như  sau : Mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật BHXH tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. . Tuy nhiên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.

Theo quy định tại khoản 3, Điều 5 – Thông tư Số 07/2010/TT-BYT của Bộ Y tế thì Hồ sơ giám định lần đầu để thực hiện chế độ hưu trí trước tuổi quy định như sau:

a) Giấy giới thiệu của người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, cơ quan BHXH cấp tỉnh cấp giấy giới thiệu theo mẫu quy định tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư này;

b) Giấy đề nghị giám định theo mẫu quy định;

c) Tóm tắt hồ sơ của người lao động theo mẫu quy định

Trường hợp của bác căn cứ trên các quy định của pháp luật hiện hành mà chúng tôi trích dẫn ở trên, bác có thể tính được quyền lợi của mình trên các điều kiện thực tế.

Cần tư vấn cụ thể mời bác trực tiếp liên hệ với văn phòng.

Trân trọng cám ơn sự quan tâm của Qúy khách tới Công ty chúng tôi!

Câu hỏi 5:

Xin luật sư giúp tôi giải đáp thắc mắc.

Bố mẹ chồng tôi sống ly thân, nay bố chồng tôi có người phụ nữ khác và muốn ở với người đó nhưng không ly hôn với mẹ. Phần tài sản chung của 2 người bao gồm nhà cửa và các tài sản có giá trị khác do mẹ chồng tôi đứng tên. Bố mẹ chồng tôi nhất trí làm di chúc để lại toàn bộ tài sản của 2 người cho con trai. Nếu sau khi đã làm di chúc xong bố chồng tôi có con riêng với người phụ nữ đó thì đứa con đó có được chia tài sản của bố chồng tôi không? Nếu bố mẹ chồng tôi ly hôn và cả 2 bố mẹ đã làm di chúc để lại toàn bộ tài sản cho con trai mà bố chồng tôi lấy người phụ nữ đó và có con riêng thì con riêng của bố chồng tôi có được chia tài sản không? Rất mong luật sư cho tôi câu trả lời sớm nhất. Chân thành cảm ơn!

Thay mặt Ban tư vấn Công ty Luật Dragon xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý

  • Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005. Người không được quyền hưởng di sản

“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”

  • Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005. Di chúc

“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”

  • Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005.Người lập di chúc

« 1. Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý ».

  • Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2005.Quyền của người lập di chúc

« Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.”

  • Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2005.Hình thức của di chúc

“Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình”.

  • Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005. Di chúc hợp pháp

« 1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực ».

  • Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2005. Nội dung của di chúc bằng văn bản

“1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”.

  • Điều 668 Bộ luật dân sự năm 2005. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng

« Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết. »

  • Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

« Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.

  • Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Người thừa kế theo pháp luật

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

2. Ý kiến luật sư dragon tư vấn

Trong trường hợp của bạn, mặc dù phần tài sản chung của bố mẹ chồng bạn chỉ đứng tên mẹ chồng bạn nhưng nó vẫn thuộc sở hữu chung của cả hai người.

Nếu bố mẹ chồng bạn đã nhất trí để lại tài sản chung của mình cho 2 người con trai thì chỉ 2 người con trai đó có quyền hưởng. Còn người con riêng của bố bạn không có tên trong di chúc thì sẽ không được hưởng phần tài sản chung của bố mẹ chồng bạn.

Trong trường hợp bố mẹ chồng bạn ly hôn thì về nguyên ta tài sản chung của bố mẹ chồng bạn sẽ được chia đôi. Và bố mẹ chồng bạn hoàn toàn có quyền để lại tài sản của mình cho ai. Nếu cả bố mẹ chồng bạn đều nhất trí làm di chúc riêng của từng người để lại tài sản cho 2 người con trai chung thì chỉ 2 người đó được hưởng tài sản thuộc sở hữu của bố mẹ chồng bạn. Còn người con riêng của bố chồng bạn chỉ được hưởng phần tài sản riêng của bố chồng bạn nếu bố chồng bạn đồng ý làm di chúc để tại 1 phần tài sản riêng của mình cho người con riêng ấy.

Chỉ trong trường hợp bố chồng bạn chết không để lại di chúc của riêng bố chồng bạn thì người con riêng của bố chồng bạn là thuộc hàng thừa kế thứ nhất mới có quyền hưởng phần tài sản riêng của bố chồng bạn (đã được chia khi bố chồng bạn ly hôn) hoặc người con riêng của bố chồng bạn đã thành niên nhưng không có khả năng lao động hoặc là người chưa thành niên thì mặc dù trong di chúc bố chồng bạn không để lại tài sản riêng của ông cho người đó nhưng theo quy định của pháp luật người con riêng đó vẫn có quyền được hưởng.

Cần tư vấn hoặc trao đổi cụ thể mời anh chị trực tiếp liên hệ với Công ty Luật Dragon.

Trân trọng!

Văn phòng luật sư Dragon Hà nội

Đối tác - khách hàng
                             
© 2011 Bản quyền thuôc: CÔNG TY LUẬT DRAGON - ĐOÀN LUẬT SƯ TP HÀ NỘI · Subscribe:Posts · Powered by Văn phòng luật sư Dragon