Luật Xuất bản 2012 (sửa đổi)

Luật Xuất bản (sửa đổi)

DỰ THẢO DỰ KIẾN TRÌNH QUỐC HỘI TẠI KỲ HỌP THỨ TƯ
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Xuất bản (sửa đổi),

Chương I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản.
Hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam có liên quan đến hoạt động xuất bản.

Điều 3. Vị trí, mục đích của hoạt động xuất bản

Hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến những xuất bản phẩm đến nhiều người nhằm giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, phát triển kinh tế – xã hội, đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:
1. Xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu để in và phát hành.
2. In là việc sử dụng thiết bị in để tạo ra xuất bản phẩm từ bản mẫu.
3. Phát hành là việc đưa xuất bản phẩm đến người sử dụng thông qua một hoặc nhiều hình thức: mua, bán, phân phát, tặng, cho, cho thuê, xuất khẩu, nhập khẩu, hội chợ, triển lãm.
4. Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản bằng các ngôn ngữ khác nhau, bằng hình ảnh, âm thanh và được thể hiện dưới các hình thức sau:
a) Sách in;
b) Sách chữ nổi;
c) Tranh, ảnh, bản đồ, áp-phích, tờ rời, tờ gấp;
d) Các loại lịch;
đ) Bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh hoạ cho sách.
5. Bản thảo là bản viết tay, đánh máy hoặc bản được tạo ra bằng phương tiện điện tử của một tác phẩm, tài liệu để xuất bản.
6. Biên tập là việc rà soát, hoàn chỉnh nội dung và hình thức bản thảo trước khi xuất bản.
7. Tài liệu không kinh doanh là tài liệu được thể hiện dưới hình thức xuất bản phẩm không nhằm mục đích kinh doanh.
8. Xuất bản điện tử là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu và sử dụng phương tiện điện tử để tạo ra xuất bản phẩm điện tử.
9. Xuất bản phẩm điện tử là xuất bản phẩm quy định tại các điểm a, c, d, đ khoản 4 Điều này được đọc, nghe, nhìn bằng phương tiện điện tử.
10. Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự quy định tại Điều 4 Luật Giao dịch điện tử.
11. Phương thức xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử là việc xuất bản và phát hành xuất bản phẩm trên các phương tiện điện tử.

Điều 5. Bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm, bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan

1. Nhà nước bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm dưới hình thức xuất bản phẩm thông qua nhà xuất bản và bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
Hoạt động xuất bản điện tử được Nhà nước bảo hộ theo quy định của Luật này.
2. Nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản.
3. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được lợi dụng quyền phổ biến tác phẩm làm thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Điều 6. Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước.
Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước.
Các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông  thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tại địa phương.
2. Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản bao gồm:
a) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hoạt động xuất bản; ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về hoạt động xuất bản và bản quyền tác giả trong hoạt động xuất bản;
b) Tổ chức đọc, kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu;
c) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản;
d) Quản lý nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong hoạt động xuất bản; đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động  xuất bản;
đ) Quản lý và tổ chức hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản;
e) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật trong hoạt động xuất bản; tuyển chọn và trao giải thưởng đối với xuất bản phẩm có giá trị cao.

Điều 7. Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản

1. Nhà nước có chiến lược, quy hoạch phát triển mạng lưới các nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở phát hành xuất bản phẩm; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực; ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật cho hoạt động xuất bản; có chính sách thu hút các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động xuất bản.
2. Chính sách của Nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản:
a) Hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, hiện đại hóa cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ – kỹ thuật tiên tiến cho các nhà xuất bản phục vụ các nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn quy định tại điểm b khoản này;
b) Đặt hàng để có bản thảo và xuất bản tác phẩm, tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo, thiếu niên, nhi đồng, người khiếm thị và các nhiệm vụ trọng yếu khác;
c) Mua bản thảo đối với những tác phẩm có giá trị nhưng thời điểm xuất bản chưa thích hợp hoặc đối tượng sử dụng hạn chế; hỗ trợ mua bản quyền đối với tác phẩm trong nước và nước ngoài có giá trị phục vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội;
d) Ưu đãi lãi suất vay vốn theo quy định của pháp luật.
3. Chính sách của Nhà nước đối với lĩnh vực in xuất bản phẩm:
a) Hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, hiện đại hóa cơ sở vật chất, ứng dụng, chuyển giao công nghệ – kỹ thuật tiên tiến cho cơ sở in phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại và cơ sở in tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
b) Ưu đãi về tiền thuê đất để làm nhà xưởng và lãi suất vay vốn cho cơ sở in phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại và cơ sở in tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
4. Chính sách của Nhà nước đối với lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm:
a) Ưu tiên đầu tư quỹ đất và kinh phí xây dựng cơ sở vật chất cho hệ thống cơ sở phát hành xuất bản phẩm tại các địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
b) Hỗ trợ cước vận chuyển xuất bản phẩm phục vụ các nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
c) Hỗ trợ kinh phí tổ chức các hoạt động quảng bá văn hóa, đất nước, con người Việt Nam thông qua xuất bản phẩm; tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm trong và ngoài nước;
d) Ưu đãi tiền thuê nhà đất, lãi suất vay vốn đối với cơ sở phát hành xuất bản phẩm.
5. Chính sách của Nhà nước đối với việc xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử:
a) Hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, hiện đại hóa cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ – kỹ thuật tiên tiến cho các nhà xuất bản để xuất bản xuất bản phẩm điện tử;
b) Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu đặc tả của xuất bản phẩm điện tử nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm, truy nhập, quản lý và lưu trữ xuất bản phẩm điện tử;
c) Chính phủ quy định chi tiết chính sách phát triển hoạt động xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử phù hợp với từng giai đoạn phát triển công nghệ.

Điều 8. Thành lập văn phòng đại điện tại Việt Nam của nhà xuất bản nước ngoài, của tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài

1. Nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài (bao gồm doanh nghiệp, tổ chức được thành lập tại nước ngoài hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnh vực trong đó có xuất bản, phát hành xuất bản phẩm) được thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam sau khi được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép.
2. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện thành lập và nội dung hoạt động, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp đổi, gia hạn giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam của nhà xuất bản nước ngoài, của tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài.

Điều 9. Khiếu nại, tố cáo trong hoạt động xuất bản

Việc khiếu nại, tố cáo trong hoạt động xuất bản được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Điều 10. Những hành vi bị cấm trong hoạt động xuất bản
1. Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2. Tuyên truyền kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục.
3. Tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác do pháp luật quy định.
4. Xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, danh nhân, anh hùng dân tộc; thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
5. Các hành vi khác bị cấm theo quy định của pháp luật.

Chương II. LĨNH VỰC XUẤT BẢN

Điều 11. Đối tượng được thành lập nhà xuất bản và loại hình tổ chức nhà xuất bản

1. Cơ quan, tổ chức sau đây được thành lập nhà xuất bản (gọi tắt là cơ quan chủ quản nhà xuất bản):
a) Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị cấp Trung ương và cấp tỉnh;
b) Tổ chức chính trị – xã hội cấp Trung ương và cấp tỉnh;
c) Đơn vị sự nghiệp công lập cấp Trung ương và tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp cấp Trung ương trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm.
2. Nhà xuất bản tổ chức và hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện do Nhà nước là chủ sở hữu.

Điều 12. Điều kiện thành lập nhà xuất bản

Cơ quan chủ quản nhà xuất bản quy định tại Điều 11 của Luật này được thành lập nhà xuất bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Có đề án thành lập nhà xuất bản phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới nhà xuất bản, trong đó nêu rõ tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, xuất bản phẩm chủ yếu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản;
2. Có trụ sở để nhà xuất bản hoạt động;
3. Có khả năng tài chính để đầu tư, xây dựng nhà xuất bản;
4. Có nhân sự đáp ứng yêu cầu bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo và biên tập viên theo quy định của Luật này.

Điều 13. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động xuất bản

1. Nhà xuất bản được cấp giấy phép hoạt động khi có đủ các điều kiện sau:
a) Có quyết định thành lập nhà xuất bản của cơ quan chủ quản;
b) Có người đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 17 của Luật này để bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo nhà xuất bản và có ít nhất 05 biên tập viên đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này;
c) Có trụ sở hoạt động, nguồn lực tài chính và các điều kiện cần thiết khác.
2. Chính phủ quy định chi tiết điểm c khoản 1 Điều này.

Điều 14. Cấp giấy phép hoạt động xuất bản

1. Cơ quan chủ quản nhà xuất bản lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động xuất bản gửi Bộ Thông tin và Truyền thông.
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động xuất bản theo mẫu quy định, trong đó nêu rõ sự cần thiết, mục đích, yêu cầu và căn cứ thành lập nhà xuất bản; tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, xuất bản phẩm chủ yếu; nguồn lực tài chính, trụ sở và loại hình hoạt động của nhà xuất bản;
b) Quyết định thành lập nhà xuất bản của cơ quan chủ quản;
c) Danh sách người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 17 của Luật này để bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo nhà xuất bản kèm sơ yếu lý lịch theo mẫu quy định;
d) Danh sách biên tập viên đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này;
đ) Giấy tờ chứng minh về việc có trụ sở, nguồn lực tài chính và các điều kiện cần thiết khác để hoạt động xuất bản.
2. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ Thông tin và Truyền thông phải thẩm định hồ sơ để cấp giấy phép; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
3. Giấy phép hoạt động xuất bản bị thu hồi trong các trường hợp sau:
a) Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động xuất bản mà nhà xuất bản không có xuất bản phẩm nộp lưu chiểu;
b) Sau khi được cấp giấy phép hoạt động xuất bản, cơ quan chủ quản nhà xuất bản không bảo đảm đủ các điều kiện để thực hiện tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, xuất bản phẩm chủ yếu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản và điều kiện quy định tại các điểm b, c khoản 1 Điều 13 của Luật này.

Điều 15. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chủ quản nhà xuất bản

1. Đảm bảo các điều kiện để thực hiện tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, xuất bản phẩm chủ yếu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản và điều kiện quy định tại các điểm b, c khoản 1 Điều 13 của Luật này.
2. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với các chức danh lãnh đạo nhà xuất bản quy định tại Điều 17 của Luật này sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thông tin và Truyền thông.
3. Định hướng kế hoạch xuất bản hằng năm của nhà xuất bản.
4. Xác định và chỉ đạo việc thực hiện tôn chỉ, mục đích, phương hướng hoạt động của nhà xuất bản; giám sát, chỉ đạo nhà xuất bản thực hiện đúng giấy phép hoạt động xuất bản.
5. Thanh tra, kiểm tra hoạt động của nhà xuất bản theo thẩm quyền.
6. Chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật của nhà xuất bản trong hoạt động xuất bản theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Điều 16. Cấp đổi, bổ sung giấy phép hoạt động xuất bản

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có một trong những thay đổi sau đây thì cơ quan chủ quản nhà xuất bản phải đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông cấp đổi giấy phép hoạt động xuất bản:
a) Thay đổi cơ quan chủ quản, tên gọi của cơ quan chủ quản nhà xuất bản và tên nhà xuất bản;
b) Thay đổi loại hình tổ chức của nhà xuất bản;
c) Thay đổi tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, xuất bản phẩm chủ yếu của nhà xuất bản.
2. Hồ sơ đề nghị cấp đổi giấy phép hoạt động xuất bản bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp đổi giấy phép hoạt động xuất bản theo mẫu quy định;
b) Giấy phép hoạt động xuất bản đã được cấp.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ Thông tin và Truyền thông phải thẩm định hồ sơ để cấp đổi giấy phép; trường hợp không cấp đổi giấy phép phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
4. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày thay đổi trụ sở, nhà xuất bản phải gửi thông báo bằng văn bản kèm theo giấy phép hoạt động xuất bản đã được cấp đến Bộ Thông tin và Truyền thông.
Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của nhà xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông bổ sung thông tin về sự thay đổi trụ sở nhà xuất bản vào giấy phép hoạt động xuất bản và gửi lại cho nhà xuất bản.

Điều 17. Tiêu chuẩn các chức danh lãnh đạo nhà xuất bản

1. Các chức danh lãnh đạo nhà xuất bản quy định tại Luật này gồm: tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập.
Đối với nhà xuất bản tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện do Nhà nước là chủ sở hữu mà có chức danh chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty thì chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty phải đồng thời là tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản.
2. Tiêu chuẩn đối với tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản:
a) Là công dân Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại Việt Nam, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
b) Có trình độ đại học trở lên;
c) Có 03 năm trở lên làm một trong các công việc:  biên tập; quản lý xuất bản, báo chí; quản lý tại cơ quan chủ quản nhà xuất bản.
3. Tiêu chuẩn đối với tổng biên tập nhà xuất bản:
a) Có đủ tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều này;
b) Có chứng chỉ hành nghề biên tập quy định tại Điều 20 của Luật này và có ít nhất 03 năm trở lên làm công tác biên tập tại nhà xuất bản hoặc cơ quan báo chí.

Điều 18. Nhiệm vụ và quyền hạn của tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập nhà xuất bản

1. Tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
a) Bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích hoạt động của nhà xuất bản;
b) Xây dựng bộ máy tổ chức và nhân lực của nhà xuất bản;
c) Tổ chức thực hiện việc đăng ký xuất bản với Bộ Thông tin và Truyền thông theo quy định tại Điều 22 của Luật này; thực hiện đúng yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về việc thẩm định nội dung tác phẩm, tài liệu trước khi xuất bản;
d) Tổ chức hội đồng thẩm định đối với tác phẩm, tài liệu thuộc loại phải thẩm định theo quy định tại Điều 24 của Luật này trước khi đăng ký xuất bản;
đ) Ký quyết định xuất bản đối với từng xuất bản phẩm đúng với giấy xác nhận đăng ký xuất bản, kể cả việc in tăng số lượng;
e) Ký hợp đồng liên kết xuất bản quy định tại điểm b khoản 4 Điều 23 của Luật này trước khi ký quyết định xuất bản;
g) Không được ký quyết định xuất bản đối với tác phẩm, tài liệu vi phạm các quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;
h) Ký duyệt bản thảo (bản mẫu) trước khi đưa in;
i) Ký duyệt xuất bản phẩm trước khi phát hành;
k) Định giá, điều chỉnh giá bán lẻ xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật;
l) Tổ chức việc lưu trữ hồ sơ biên tập bản thảo và tài liệu có liên quan của từng xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật;
m) Đảm bảo ghi đầy đủ thông tin trên xuất bản phẩm theo quy định tại Điều 27 của Luật này;
n) Thực hiện việc sửa chữa, đình chỉ phát hành, thu hồi hoặc tiêu hủy xuất bản phẩm vi phạm pháp luật khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
o) Báo cáo về xuất bản phẩm và hoạt động của nhà xuất bản theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản;
p) Quản lý tài sản và cơ sở vật chất của nhà xuất bản;
q) Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan chủ quản về xuất bản phẩm và mọi hoạt động của nhà xuất bản.
2. Tổng biên tập nhà xuất bản có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
a) Giúp tổng giám đốc (giám đốc) chỉ đạo việc tổ chức bản thảo;
b) Tổ chức biên tập bản thảo;
c) Đọc và ký duyệt đối với từng bản thảo để trình tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản ký quyết định xuất bản;
d) Chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản và trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm của nhà xuất bản do mình đọc và ký duyệt.

Điều 19. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của biên tập viên

1. Tiêu chuẩn của biên tập viên:
a) Là công dân Việt Nam; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Việt Nam; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
b) Có trình độ đại học trở lên;
c) Có kiến thức cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ biên tập.
2. Biên tập viên có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
a) Thực hiện biên tập bản thảo và đứng tên trên xuất bản phẩm do mình biên tập theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 27 của Luật này;
b) Được khước từ biên tập bản thảo tác phẩm, tài liệu mà nội dung có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật này và phải báo cáo với tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập nhà xuất bản bằng văn bản;
c) Được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật xuất bản, nghiệp vụ biên tập do cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tổ chức;
d) Chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập nhà xuất bản và trước pháp luật về phần nội dung xuất bản phẩm do mình biên tập.

Điều 20. Cấp, thu hồi, cấp lại chứng chỉ hành nghề biên tập

1. Người có đủ các điều kiện sau đây được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp chứng chỉ hành nghề biên tập:
a) Có đủ tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 19 của Luật này;
b) Hoàn thành khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật xuất bản, nghiệp vụ biên tập theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
2. Hồ sơ cấp chứng chỉ hành nghề biên tập được lập thành 01 bộ gửi Bộ Thông tin và Truyền thông, bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề biên tập theo mẫu quy định;
b)    Sơ yếu lý lịch theo mẫu quy định;
c)    Bản sao có chứng thực bằng tốt nghiệp đại học trở lên;
d) Văn bản xác nhận đã hoàn thành khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật xuất bản, nghiệp vụ biên tập quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp chứng chỉ hành nghề biên tập; trường hợp không cấp chứng chỉ phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
4. Chứng chỉ hành nghề biên tập bị thu hồi trong các trường hợp sau:
a) Biên tập viên có xuất bản phẩm do mình biên tập bị cấm phát hành, thu hồi, tịch thu, tiêu hủy;
b) Biên tập viên trong 01 năm có 03 xuất bản phẩm hoặc trong 02 năm liên tục có xuất bản phẩm do mình biên tập sai phạm về nội dung mà bị buộc phải sửa chữa mới được phát hành;
c) Biên tập viên bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án.
5. Chứng chỉ hành nghề biên tập được cấp lại trong trường hợp bị mất hoặc bị hư hỏng.
Biên tập viên có chứng chỉ hành nghề biên tập bị thu hồi thì sau 02 năm mới được xét cấp lại, trừ trường hợp biên tập viên bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án về các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Điều 21. Quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản

Việc xuất bản tác phẩm, tài liệu và tái bản xuất bản phẩm chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

Điều 22. Đăng ký xuất bản và xác nhận đăng ký xuất bản

1. Trước khi xuất bản tác phẩm, tài liệu hoặc tái bản xuất bản phẩm, nhà xuất bản phải đăng ký xuất bản với Bộ Thông tin và Truyền thông theo mẫu quy định. Đăng ký xuất bản phải phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của nhà xuất bản.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đăng ký xuất bản của nhà xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận đăng ký xuất bản bằng văn bản và thu lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
Văn bản xác nhận đăng ký xuất bản là căn cứ để nhà xuất bản thực hiện xuất bản và có giá trị đến hết ngày 31 tháng 12 của năm xác nhận đăng ký.
3. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản không xác nhận đăng ký xuất bản đối với tác phẩm, tài liệu hoặc xuất bản phẩm vi phạm các quy định pháp luật.

Điều 23. Liên kết trong lĩnh vực xuất bản

1. Nhà xuất bản được liên kết với tổ chức, cá nhân sau đây (gọi là đối tác liên kết) để xuất bản đối với từng xuất bản phẩm:
a) Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;
b) Tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh về in, phát hành xuất bản phẩm;
c) Tổ chức có tư cách pháp nhân.
2. Hình thức liên kết của nhà xuất bản với đối tác quy định tại điểm a khoản 1 Điều này bao gồm:
a) In xuất bản phẩm;
b) Phát hành xuất bản phẩm.
3. Hình thức liên kết của nhà xuất bản với đối tác liên kết quy định tại các điểm b và c khoản 1 Điều này bao gồm:
a) Khai thác bản thảo;
b) Biên tập sơ bộ bản thảo;
c) In xuất bản phẩm;
d) Phát hành xuất bản phẩm.
4. Việc liên kết chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
a) Có văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm, tài liệu được liên kết xuất bản;
b) Có hợp đồng liên kết xuất bản giữa nhà xuất bản và đối tác liên kết. Hợp đồng liên kết phải có các nội dung cơ bản theo mẫu do cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản quy định;
c) Trường hợp liên kết biên tập sơ bộ bản thảo, ngoài việc phải có đủ điều kiện quy định tại các điểm a và b khoản này, đối tác liên kết phải có biên tập viên  có đủ năng lực, trình độ theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
5. Đối với tác phẩm, tài liệu có nội dung về lý luận chính trị, lịch sử, tôn giáo, chủ quyền quốc gia, hồi ký thì nhà xuất bản không được liên kết biên tậpsơ bộ bản thảo.
6. Trách nhiệm của tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản trong liên kết xuất bản:
a) Quyết định đối tác, hình thức liên kết và giao kết hợp đồng liên kết đối với từng xuất bản phẩm; trường hợp liên kết để xuất bản nhiều xuất bản phẩm với cùng một đối tác liên kết thì giao kết một hợp đồng và phải thể hiện hình thức liên kết đối với từng xuất bản phẩm trong hợp đồng;
b) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này;
c) Đảm bảo nội dung xuất bản phẩm liên kết phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của nhà xuất bản;
d) Tổ chức biên tập hoàn chỉnh bản thảo tác phẩm, tài liệu do đối tác liên kết biên tập sơ bộ; đọc duyệt bản thảo tác phẩm, tài liệu liên kết xuất bản.
đ) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động liên kết và xuất bản phẩm liên kết.
7. Trách nhiệm của tổng biên tập nhà xuất bản trong liên kết xuất bản:
a) Giúp tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản tổ chức biên tập hoàn chỉnh bản thảo tác phẩm, tài liệu do đối tác liên kết biên tập sơ bộ; đọc duyệt bản thảo tác phẩm, tài liệu liên kết xuất bản hoặc tổ chức biên tập lại bản thảo khi cần thiết;
b) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật này.
8. Trách nhiệm của đối tác liên kết:
a) Thực hiện đúng hợp đồng liên kết với nhà xuất bản;
b) Thực hiện đúng nội dung bản thảo đã được tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản ký duyệt để in hoặc phát hành trên phương tiện điện tử;
c) Ghi tên, địa chỉ trên xuất bản phẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 27 của Luật này;
d) Nộp xuất bản phẩm liên kết để tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản ký duyệt phát hành trong trường hợp liên kết in xuất bản phẩm;
đ) Chỉ phát hành xuất bản phẩm liên kết sau khi được tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản ký duyệt phát hành;
e) Thực hiện việc sửa chữa, đình chỉ phát hành, thu hồi hoặc tiêu hủy xuất bản phẩm vi phạm pháp luật khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
g) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động liên kết và xuất bản phẩm liên kết.

Điều 24. Tác phẩm, tài liệu cần thẩm định nội dung trước khi tái bản

Những tác phẩm, tài liệu sau đây nếu nội dung có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật này thì nhà xuất bản phải tổ chức thẩm định trước khi đăng ký xuất bản:
1. Tác phẩm, tài liệu xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945; tác phẩm xuất bản từ năm 1945 đến năm 1954 trong vùng bị tạm chiếm;
2. Tác phẩm, tài liệu xuất bản từ năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở miền Nam Việt Nam không do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cho phép;
3. Tác phẩm, tài liệu xuất bản ở nước ngoài.

Điều 25. Cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh

1. Việc xuất bản tài liệu không kinh doanh của cơ quan, tổ chức mà không thực hiện qua nhà xuất bản thì phải được cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản sau đây cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh:
a) Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép xuất bản cho cơ quan, tổ chức Việt Nam cấp Trung ương và tổ chức nước ngoài;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép xuất bản cho cơ quan, tổ chức Việt Nam cấp địa phương; chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức Việt Nam cấp Trung ương đóng tại địa phương.
2. Tài liệu không kinh doanh phải phù hợp chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép xuất bản.
3. Chính phủ quy định danh mục tài liệu không kinh doanh được cấp giấy phép xuất bản.
4. Cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép lập hồ sơ gửi cơ quan cấp giấy phép quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều này và nộp phí thẩm định nội dung tài liệu để cấp giấy phép theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Hồ sơ bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép;
b) 03 bản thảo tài liệu; trường hợp tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch bằng tiếng Việt. Đối với tài liệu để xuất bản điện tử phải lưu toàn bộ nội dung vào thiết bị số.
c) Bản sao có chứng thực quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với tổ chức nước ngoài có tài liệu không kinh doanh đề nghị cấp giấy phép xuất bản.
5. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản quy định các điểm a, b khoản 1 Điều này phải cấp giấy phép xuất bản, đóng dấu vào 03 bản thảo tài liệu và lưu lại 01 bản, 02 bản trả lại cho tổ chức đề nghị cấp phép; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
6. Cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh có trách nhiệm:
a) Thực hiện đúng giấy phép được cấp;
b) Đảm bảo nội dung tài liệu xuất bản đúng với bản thảo tài liệu được cấp giấy phép;
c) Thực hiện đúng quy định về thông tin phải ghi trên xuất bản phẩm theo Điều 27 của Luật này;
d) Nộp tài liệu để lưu chiểu và nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam theo quy định tại Điều 28 của Luật này;
đ) Thực hiện việc sửa chữa, đình chỉ phát hành, thu hồi hoặc tiêu hủy đối với tài liệu vi phạm pháp luật khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu được cấp giấy phép xuất bản.

Điều 26. Xuất bản tác phẩm, tài liệu của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam

1. Việc xuất bản tác phẩm của tổ chức, cá nhân nước ngoài để kinh doanh tại Việt Nam phải được nhà xuất bản của Việt Nam có chức năng tương ứng thực hiện.
2. Việc xuất bản tài liệu không kinh doanh của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam không thực hiện qua nhà xuất bản của Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Điều 25 của Luật này.

Điều 27. Thông tin ghi trên xuất bản phẩm

1. Trên xuất bản phẩm dưới dạng sách phải ghi các thông tin sau:
a) Tên sách, họ tên tác giả hoặc họ tên người biên soạn, họ tên người chủ biên (nếu có); họ tên người dịch (nếu là sách dịch), họ tên người phiên âm (nếu là sách phiên âm từ chữ Nôm); tên nhà xuất bản hoặc tổ chức được cấp giấy phép xuất bản;
b) Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân liên kết xuất bản (nếu có); họ tên người hiệu đính (nếu có); năm xuất bản, số thứ tự của tập; đối với sách dịch, phải ghi tên nguyên bản; nếu dịch từ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ nguyên bản thì phải ghi rõ dịch từ ngôn ngữ nào;
c) Họ tên và chức danh của tổng giám đốc (giám đốc) chịu trách nhiệm xuất bản; họ tên và chức danh của tổng biên tập chịu trách nhiệm nội dung; họ tên biên tập viên; khuôn khổ sách, số xác nhận đăng ký xuất bản, số quyết định xuất bản của tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản hoặc số giấy phép xuất bản của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản; họ tên người trình bày, minh họa; họ tên người biên tập kỹ thuật, họ tên người sửa bản in; số lượng in; tên và địa chỉ cơ sở in; thời gian nộp lưu chiểu; mã số sách tiêu chuẩn quốc tế (ISBN);
d) Đối với sách kinh doanh phải ghi giá bán lẻ; đối với sách do Nhà nước đặt hàng phải ghi là “sách Nhà nước đặt hàng”; đối với sách không kinh doanh phải ghi là “sách không bán”.
2. Trên xuất bản phẩm không phải là sách phải ghi các thông tin sau:
a) Tên xuất bản phẩm; tên nhà xuất bản hoặc tổ chức được phép xuất bản;
b) Số xác nhận đăng ký xuất bản, số quyết định xuất bản của tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản hoặc số giấy phép xuất bản của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản; số lượng in, tên và địa chỉ cơ sở in; tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân liên kết (nếu có);
c) Đối với xuất bản phẩm kinh doanh phải ghi giá bán lẻ; đối với xuất bản phẩm do Nhà nước đặt hàng phải ghi là “Xuất bản phẩm Nhà nước đặt hàng”; đối với xuất bản phẩm không kinh doanh phải ghi là “ Xuất bản phẩm không bán”;
3. Thông tin quy định tại điểm a khoản 1 Điều này phải ghi trên bìa một của sách; thông tin quy định tại điểm c khoản 1 Điều này phải ghi trên cùng một trang sách; thông tin quy định tại điểm d khoản 1 Điều này phải ghi trên bìa bốn của sách.
4. Tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản quyết định vị trí ghi các thông tin quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trên xuất bản phẩm, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.
5. Đối với xuất bản phẩm điện tử ngoài việc phải có đủ các thông tin quy định tại các khoản 1, 2 Điều này còn phải có các thông tin quản lý xuất bản phẩm điện tử theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
6. Đối với bìa một của sách có hình ảnh Quốc kỳ, Quốc huy, Đảng kỳ, bản đồ Việt Nam, chân dung lãnh tụ, người đứng đầu Đảng và Nhà nước thì không ghi tên tác giả, tên ng¬ười dịch, tên ng¬ười phiên âm, tên tổ chức, cá nhân liên kết xuất bản trên nền hình ảnh, chân dung đó.

Điều 28. Nộp xuất bản phẩm lưu chiểu và nộp xuất bản phẩm cho Thư viện Quốc gia Việt Nam

1. Nộp xuất bản phẩm lưu chiểu cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản:
Tất cả xuất bản phẩm trước khi phát hành phải nộp lưu chiểu. Việc nộp lưu chiểu xuất bản phẩm được thực hiện theo quy định sau:
a) Nhà xuất bản hoặc tổ chức được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép xuất bản phải nộp 03 bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông; trường hợp số lượng in dưới 300 bản thì nộp 02 bản;
b) Tổ chức được ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép xuất bản phải nộp 02 bản cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh và một bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông; trường hợp số lượng in dưới 300 bản thì nộp 01 bản cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh, 01 bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông;
c) Trường hợp xuất bản phẩm tái bản không sửa chữa, bổ sung thì nộp 01 bản cho Bộ Thông tin và Truyền thông;
d) Có tờ khai lưu chiểu theo mẫu quy định;
đ) Xuất bản phẩm có nội dung thuộc bí mật Nhà nước theo quy định của pháp luật thì chỉ nộp tờ khai lưu chiểu.
2. Nộp xuất bản phẩm cho Thư viện Quốc gia Việt Nam:
Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày xuất bản phẩm được phát hành, nhà xuất bản, tổ chức được phép xuất bản phải nộp 03 bản cho Thư viện Quốc gia; trường hợp số lượng in dưới 300 bản thì nộp 02 bản.
3. Thư viện Quốc gia Việt Nam không được sử dụng xuất bản phẩm bị cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản và nhà xuất bản đình chỉ phát hành, cấm lưu hành, thu hồi, tịch thu, tiêu hủy để phục vụ bạn đọc.
Điều 29. Đọc, kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu và thẩm quyền xử lý xuất bản phẩm vi phạm
1. Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức đọc, kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu và quyết định việc xử lý xuất bản phẩm vi phạm các quy định tại Luật này và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức đọc, kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu do mình cấp giấy phép xuất bản và quyết định việc xử lý xuất bản phẩm khi vi phạm các quy định tại Luật này và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
3. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ thù lao cho người đọc và kiểm tra, thẩm định xuất bản phẩm lưu chiểu.

Điều 30. Quảng cáo trên xuất bản phẩm

1. Việc quảng cáo trên xuất bản phẩm thể hiện dưới các hình thức: sách, tài liệu dưới dạng sách; tài liệu không kinh doanh; bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách; tranh, ảnh, áp-phích, tờ rời, tờ gấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về quảng cáo.
2. Không được quảng cáo trên bản đồ hành chính.
3. Việc quảng cáo trên lịch blốc được thực hiện theo quy định sau:
a) Quảng cáo không quá 20% diện tích từng tờ lịch; nội dung và hình ảnh quảng cáo phải phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam;
b) Những tờ lịch in ngày Quốc lễ và ngày kỷ niệm lớn của đất nước không được quảng cáo.

Điều 31. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực xuất bản

1. Tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại các điều 3, 5, 8, 10, 12, 15, 16, 17, 18, 19,  21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28 và 30 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại các điều 3, 5, 8, 10, 12, 15, 16, 17, 18, 19, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28 và 30 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Xuất bản phẩm có vi phạm bị đình chỉ phát hành có thời hạn và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải sửa chữa mới được phát hành hoặc bị thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy.
4. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực xuất bản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
5. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản phải chịu trách nhiệm về quyết định xử lý của mình; trường hợp quyết định sai, gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương III. LĨNH VỰC IN XUẤT BẢN PHẨM

Điều 32. Hoạt động của cơ sở in xuất bản phẩm

1. Cơ sở in chỉ được in xuất bản phẩm sau khi được cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm.
2. Cơ sở in chỉ được nhận in xuất bản phẩm theo quy định tại Điều 34 của Luật này.
Điều 33. Cấp, cấp đổi giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm
1. Điều kiện để cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm gồm:
a) Người đứng đầu cơ sở in phải là công dân Việt Nam; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Việt Nam; có nghiệp vụ về in và đáp ứng các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật;
b) Có mặt bằng sản xuất, thiết bị để chế bản, in và gia công sau in xuất bản phẩm;
c) Bảo đảm các điều kiện về an ninh, trật tự, vệ  sinh môi trường theo quy định của pháp luật;
d) Phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở in xuất bản phẩm.
2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm theo mẫu quy định;
b) Bản sao có chứng thực một trong các loại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định thành lập cơ sở in;
c) Tài liệu chứng minh về việc có mặt bằng sản xuất và thiết bị để thực hiện một trong các công đoạn chế bản in, in, gia công sau in;
d) Sơ yếu lý lịch theo mẫu quy định của người đứng đầu cơ sở in;
đ) Bản sao văn bằng hoặc chứng chỉ nghiệp vụ, quản lý về in do cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành in cấp cho người đứng đầu của cơ sở in;
e) Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận đủ điều kiện an ninh – trật tự, vệ sinh môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
3. Thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm:
a) Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép cho cơ sở in của cơ quan, tổ chức ở Trung ương;
b) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép cho cơ sở in của địa phương.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản quy định tại khoản 3 Điều này phải cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản nêu rõ lý do.
5. Giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm được cấp lại trong trường hợp bị mất hoặc bị hư hỏng.
6. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày cơ sở in có một trong các thay đổi về tên gọi, địa chỉ, thành lập chi nhánh, chia tách hoặc sáp nhập thì cơ sở in phải làm thủ tục đổi giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
7. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có thay đổi về người đứng đầu thì cơ sở in phải thông báo bằng văn bản với cơ quan cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm và gửi kèm hồ sơ quy định tại các điểm a, d và đ khoản 2 Điều này.
8. Giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm bị thu hồi trong các trường hợp sau:
a) Cơ sở in xuất bản phẩm không bảo đảm một hoặc nhiều điều kiện quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này trong quá trình hoạt động;
b) Cơ sở in có sự thay đổi quy định tại khoản 6 Điều này mà không thực hiện cấp đổi giấy phép.

Điều 34. Điều kiện nhận in xuất bản phẩm

1. Việc in xuất bản phẩm được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với xuất bản phẩm thực hiện thông qua nhà xuất bản thì phải có quyết định xuất bản (bản chính) và bản thảo có chữ ký duyệt của tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản;
b) Đối với tài liệu không kinh doanh của cơ quan, tổ chức Việt Nam không thực hiện qua nhà xuất bản thì phải có giấy phép xuất bản (bản chính) và bản thảo có đóng dấu của cơ quan cấp giấy phép quy định tại khoản 5 Điều 25 của Luật này;
c) Đối với tài liệu không kinh doanh của tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam không thực hiện qua nhà xuất bản của Việt Nam thì phải có giấy phép xuất bản do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp và bản thảo có đóng dấu của cơ quan cấp giấy phép quy định tại khoản 5 Điều 25 của Luật này;
d) Đối với xuất bản phẩm in gia công cho nước ngoài phải có giấy phép in gia công và bản mẫu xuất bản phẩm đặt in gia công có đóng dấu của cơ quan cấp giấy phép quy định tại Điều 35 của Luật này.
2. Việc nhận in xuất bản phẩm phải có hợp đồng theo quy định của pháp luật giữa cơ sở in với nhà xuất bản hoặc tổ chức được cấp giấy phép xuất bản.
3. Trường hợp nhận in tăng số lượng xuất bản phẩm phải có hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều này và phải phù hợp với quyết định xuất bản hoặc giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.

Điều 35. In gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài

1. Cơ sở in có giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm quy định tại Điều 33 của Luật này được in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài.
Việc in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài phải được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép.
2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép in gia công cho nước ngoài theo mẫu quy định;
b) 02 bản mẫu xuất bản phẩm đặt in;
c) Bản sao có chứng thực giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm;
d) Bản sao có chứng thực hợp đồng in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài;
đ) Bản sao hộ chiếu còn thời hạn sử dụng của người đặt in hoặc giấy ủy quyền, giấy chứng minh nhân dân của người được ủy quyền đặt in.
3. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông phải cấp giấy phép, đóng dấu vào 02 bản mẫu và gửi trả lại cơ sở in 01 bản; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản nêu rõ lý do.
Giấy phép in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài có thời hạn cho đến khi hoàn thành thủ tục xuất khẩu.
4. Xuất bản phẩm in gia công cho nước ngoài phải xuất khẩu 100%. Giám đốc cơ sở in chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất bản phẩm in gia công. Bên đặt in chịu trách nhiệm về bản quyền đối với xuất bản phẩm đặt in gia công.
5. Nội dung xuất bản phẩm in gia công cho nước ngoài không được vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật này.

Điều 36. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở in xuất bản phẩm

1. Thực hiện quy định tại các điều 32, 33, 34 và các khoản 1, 2, 4, 5 Điều 35 của Luật này; lưu giữ và quản lý hồ sơ nhận in xuất bản phẩm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
2. Báo cáo về hoạt động in xuất bản phẩm của cơ sở in theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
3. Khi phát hiện xuất bản phẩm có nội dung vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật này thì cơ sở in phải dừng việc in và báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, đồng thời thông báo với nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức, cá nhân đặt in.
4. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động in xuất bản phẩm của cơ sở in.

Điều 37. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực in xuất bản phẩm

1. Tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại các điều 32, 33, 34; các khoản 1, 2, 4, 5 Điều 35 và Điều 36 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại các điều 32, 33, 34; các khoản 1, 2, 4, 5 Điều 35 và Điều 36 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động in thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
4. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản phải chịu trách nhiệm về quyết định xử lý của mình; trường hợp quyết định sai, gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương IV. LĨNH VỰC PHÁT HÀNH  XUẤT BẢN PHẨM

Điều 38. Hoạt động phát hành xuất bản phẩm

1. Cơ sở phát hành xuất bản phẩm là cơ sở của tổ chức, cá nhân kinh doanh xuất bản phẩm (sau đây gọi là cơ sở phát hành).
2. Cơ sở phát hành phải đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo quy định tại Điều 39 của Luật này.
3. Cơ sở hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm (sau đây gọi là cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm) phải có giấy phép hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp.

Điều 39. Đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm

Trước khi hoạt động, cơ sở phát hành phải đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo quy định sau:
1. Đối với cơ sở phát hành là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập:
a) Người đứng đầu cơ sở phát hành phải thường trú tại Việt Nam; có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về phát hành xuất bản phẩm do cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành phát hành xuất bản phẩm cấp;
b) Có một trong các loại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật;
c) Có địa điểm kinh doanh xuất bản phẩm.
2. Đối với cơ sở phát hành là hộ kinh doanh:
a) Chủ hộ phải thường trú tại Việt Nam;
b) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
c) Có địa điểm kinh doanh xuất bản phẩm.
3. Cơ sở phát hành có trụ sở chính và chi nhánh tại 02 tỉnh, thành phố trở lên đăng ký hoạt động với Bộ Thông tin và Truyền thông.
Cơ sở phát hành có trụ sở chính và chi nhánh tại cùng 01 tỉnh, thành phố đăng ký hoạt động với ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Cơ sở phát hành là hộ kinh doanh đăng ký hoạt động với ủy ban nhân dân cấp huyện.
4. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm.
Điều 40. Cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm
1. Tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm gồm:
a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư;
b) Người đứng đầu cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm phải thường trú tại Việt Nam, có văn bằng hoặc chứng chỉ hành nghề về phát hành xuất bản phẩm do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;
c) Trường hợp kinh doanh nhập khẩu sách, ngoài điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, phải có đội ngũ nhân viên và cộng tác viên đủ năng lực thẩm định nội dung sách.
3. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm;
b) Danh sách nhân viên, cộng tác viên có hợp đồng lao động; bản sao có chứng thực giấy chứng nhận, văn bằng hoặc chứng chỉ quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều này.
4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp giấy phép, Bộ Thông tin và Truyền thông phải cấp giấy phép; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
5. Chính phủ quy định chi tiết điều này.

Điều 41. Đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh

1. Việc nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh phải do cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm thực hiện.
2. Trước khi nhập khẩu, cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm phải lập hồ sơ đăng ký nhập khẩu gửi Bộ Thông tin và Truyền thông và phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết hồ sơ đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm, Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận đăng ký bằng văn bản; trường hợp không xác nhận đăng ký phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
4. Trường hợp có sự thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký xuất bản phẩm nhập khẩu đã được xác nhận đăng ký, cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm phải có văn bản báo cáo về nội dung thông tin thay đổi, đồng thời đăng ký những thông tin mới (nếu có) với Bộ Thông tin và Truyền thông để xác nhận đăng ký bổ sung.
5. Văn bản xác nhận đăng ký của Bộ Thông tin và Truyền thông  là căn cứ pháp lý để cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm làm thủ tục nhập khẩu với cơ quan hải quan và có giá trị cho đến khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu.
6. Trường hợp phát hiện nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông có quyền từ chối xác nhận đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm hoặc yêu cầu thẩm định nội dung xuất bản phẩm đó trước khi xác nhận đăng ký nhập khẩu.

Điều 42. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở phát hành xuất bản phẩm và cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm

1. Thực hiện các điều kiện quy định tại Điều 38 của Luật này trong quá trình hoạt động.
2. Thực hiện đúng giấy phép hoạt động phát hành xuất bản phẩm; giấy phép hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm; giấy xác nhận đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm.
3. Báo cáo về hoạt động của cơ sở phát hành, cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
4. Trong quá trình hoạt động phát hành, nhập khẩu xuất bản phẩm mà phát hiện xuất bản phẩm có nội dung vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật này thì cơ sở phát hành, cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm phải dừng việc phát hành, nhập khẩu và báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
5. Đối với cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm, người đứng đầu phải tổ chức thẩm định nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu trước khi phát hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất bản phẩm nhập khẩu.
6. Tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật xuất bản do cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tổ chức.
7. Không được tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm có nội dung vi phạm Điều 10 của Luật này; không có hóa đơn, chứng từ thể hiện nguồn gốc hợp pháp hoặc bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy; thuộc loại không kinh doanh, được in gia công cho nước ngoài.
8. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ sở phát hành, cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm.

Điều 43. Cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh

1. Việc nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh của tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam phải được cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản cấp giấy phép nhập khẩu, trừ trường hợp quy định tại Điều 44 của Luật này và phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
2. Trước khi nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh, tổ chức, cá nhân phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu theo mẫu quy định và gửi cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo quy định sau:
a) Cơ quan, tổ chức Trung ương, tổ chức nước ngoài có trụ sở tại thành phố Hà Nội gửi hồ sơ đến Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội;
b) Các cơ quan, tổ chức khác và cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài gửi hồ sơ đến ủy ban nhân dân cấp tỉnh sở tại hoặc nơi có cửa khẩu mà xuất bản phẩm được nhập khẩu.
3. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh được lập thành 01 bộ, gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép theo mẫu quy định;
b) Danh mục xuất bản phẩm đề nghị nhập khẩu theo mẫu quy định.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này phải cấp giấy phép nhập khẩu; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
5. Trường hợp phát hiện xuất bản phẩm đề nghị nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam thì cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản có quyền từ chối cấp giấy phép nhập khẩu hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu cung cấp 01 bản xuất bản phẩm để tổ chức thẩm định nội dung làm cơ sở cho việc quyết định cấp giấy phép nhập khẩu.
6. Việc thẩm định nội dung xuất bản phẩm để quyết định việc cấp giấy phép nhập khẩu không kinh doanh thực hiện như sau:
a) Cơ quan cấp giấy phép nhập khẩu thành lập hội đồng thẩm định đối với từng xuất bản phẩm. Thành phần gồm các chuyên gia có đủ trình độ để thẩm định;
b) Thời gian thẩm định đối với từng xuất bản phẩm không quá 15 ngày, kể từ ngày hội đồng được thành lập;
c) Kết quả thẩm định phải được lập thành văn bản, trong đó xác định rõ nội dung xuất bản phẩm có hoặc không vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật này và các quy định pháp luật có liên quan.
7. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết về thủ tục thẩm định.
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức chi phí thẩm định nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu.

Điều 44. Các trường hợp không phải đề nghị cấp phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh

1. Đối với các trường hợp sau đây tổ chức, cá nhân không phải đề nghị cấp phép khi nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam mà chỉ làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan:
a) Tài liệu phục vụ hội thảo, hội nghị quốc tế đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép tổ chức tại Việt Nam;
b) Xuất bản phẩm là tài sản di chuyển của tổ chức, gia đình, cá nhân để sử dụng riêng;
c) Xuất bản phẩm thuộc tiêu chuẩn hành lý mang theo người của người nhập cảnh để sử dụng cho nhu cầu cá nhân;
d) Xuất bản phẩm tặng cho tổ chức, cá nhân gửi qua bưu điện, dịch vụ chuyển phát có giá trị không lớn hơn tiêu chuẩn miễn thuế theo quy định của pháp luật.
2. Xuất bản phẩm quy định tại các điểm a và b khoản 1 Điều này sau khi sử dụng phải tái xuất; trường hợp chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác của Việt Nam thì tổ chức, cá nhân tiếp nhận phải làm thủ tục nhập khẩu theo quy định của Luật này.
Xuất bản phẩm quy định tại các điểm c và d khoản 1 Điều này nếu có giá trị vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế thì phải làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu.
3. Việc nhập khẩu xuất bản phẩm của tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ thực hiện theo quy định của pháp luật hải quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
4. Tổ chức, cá nhân có xuất bản phẩm nhập khẩu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về  xuất bản phẩm của mình và không được kinh doanh xuất bản phẩm dưới mọi hình thức.
5. Xuất bản phẩm có nội dung vi phạm Điều 10 của Luật này không được đưa vào Việt Nam dưới mọi hình thức.

Điều 45. Xuất khẩu xuất bản phẩm

Xuất bản phẩm được xuất bản và lưu hành hợp pháp tại Việt Nam khi xuất khẩu ra nước ngoài không phải xin phép cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.

Điều 46. Triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm

1. Việc tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài phải được cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản cấp giấy phép.
2. Thẩm quyền cấp giấy phép:
a) Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép cho tổ chức cấp Trung ương; tổ chức, cá nhân nước ngoài;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép cho tổ chức, cá nhân của địa phương, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị trực thuộc tổ chức cấp Trung ương tại địa phương.
3. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép theo mẫu quy định trong đó ghi mục đích, thời gian, địa điểm và tên các đơn vị tham gia triển lãm, hội chợ;
b) Danh mục xuất bản phẩm để triển lãm, hội chợ theo mẫu quy định.
4. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản quy định tại khoản 2 Điều này phải cấp giấy phép; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản nêu rõ lý do.
5. Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm có trách nhiệm:
a) Thực hiện đúng giấy phép tổ chức triển lãm, hội chợ;
b) Kiểm tra, thẩm định nội dung xuất bản phẩm trước khi trưng bày, giới thiệu tại triển lãm, hội chợ;
c) Không được trưng bày, giới thiệu xuất bản phẩm có nội dung vi phạm Điều 10 của Luật này; xuất bản phẩm đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy hoặc xuất bản phẩm không có hóa đơn, chứng từ thể hiện nguồn gốc hợp pháp;
d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm.
6. Cơ quan cấp giấy phép có quyền từ chối cấp giấy phép hoặc yêu cầu tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép đưa ra khỏi danh mục xuất bản phẩm để triển lãm, hội chợ trong các trường hợp sau:
a) Xuất bản phẩm để triển lãm, hội chợ có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật này;
b) Xuất bản phẩm để triển lãm, hội chợ không có nguồn gốc hợp pháp;
c) Xuất bản phẩm đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy.
Điều 47. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm
1. Tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại các điều 38, 39, 41, 42, 44, 45 và 46 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại các điều 38, 39, 41, 42, 44, 45 và 46 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Xuất bản phẩm có vi phạm thì bị đình chỉ phát hành có thời hạn, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu huỷ.
4. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động phát hành thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
5. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản phải chịu trách nhiệm về quyết định xử lý của mình; trường hợp quyết định sai, gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương V. XUẤT BẢN VÀ PHÁT HÀNH XUẤT BẢN PHẨM ĐIỆN TỬ

Điều 48. Điều kiện hoạt động xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử

1. Việc xuất bản điện tử phải do nhà xuất bản thực hiện và phải tuân theo quy định của Luật này.
Nhà xuất bản khi thực hiện xuất bản điện tử ngoài việc phải có giấy phép hoạt động xuất bản quy định tại Điều 14 của Luật này còn phải có đủ các điều kiện sau:
a) Có năng lực về thiết bị, công nghệ và nhân lực kỹ thuật để điều hành và quản lý trong quá trình xuất bản xuất bản phẩm điện tử;
b) Có biện pháp kỹ thuật phù hợp với quy định của cơ quan quản lý nhà nước để chống sao chép, can thiệp bất hợp pháp vào nội dung xuất bản phẩm;
c) Khi thực hiện xuất bản điện tử trên Internet, ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b khoản này, phải có tên miền Internet Việt Nam theo quy định của pháp luật;
d) Có đăng ký hoạt động xuất bản điện tử với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
2. Tổ chức, cá nhân thực hiện phát hành xuất bản phẩm điện tử phải có đủ các điều kiện sau:
a) Có năng lực về thiết bị, công nghệ và nhân lực kỹ thuật để điều hành và quản lý trong quá trình phát hành xuất bản phẩm điện tử;
b) Có biện pháp kỹ thuật phù hợp với quy định của cơ quan quản lý nhà nước để chống sao chép, can thiệp bất hợp pháp vào nội dung xuất bản phẩm;
c) Khi phát hành xuất bản phẩm điện tử trên Internet, ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b khoản này phải có tên miền Internet Việt Nam theo quy định của pháp luật;
d) Có đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.

Điều 49. Cách thức thực hiện xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử

Tác phẩm, tài liệu xuất bản lần đầu theo phương thức xuất bản điện tử phải thông qua nhà xuất bản hoặc phải được cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản cấp giấy phép xuất bản theo quy định tại Điều 25 của Luật này.
Xuất bản phẩm đã được xuất bản, in, phát hành hợp pháp được phát hành trên phương tiện điện tử.
Việc xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

Điều 50. Kỹ thuật, công nghệ để xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử

Xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử phải:
1. Thực hiện đúng quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm điện tử;
2. Tuân thủ các quy định pháp luật về viễn thông, công nghệ thông tin, thương mại điện tử, giao dịch điện tử và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 51. Nộp lưu chiểu xuất bản phẩm điện tử và nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam

1. Nhà xuất bản, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh thực hiện nộp lưu chiểu 01 xuất bản phẩm điện tử cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo quy định tại Điều 28 của Luật này và nộp 01 xuất bản phẩm điện tử cho Thư viện Quốc gia Việt Nam.
2. Cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản chỉ được sử dụng xuất bản phẩm điện tử lưu chiểu để phục vụ công tác quản lý.
3. Thư viện quốc gia Việt Nam lưu trữ và chỉ được sử dụng xuất bản phẩm điện tử vào việc phục vụ bạn đọc tại Thư viện quốc gia Việt Nam theo quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 52. Quảng cáo trên xuất bản phẩm điện tử

Việc quảng cáo trên xuất bản phẩm điện tử thực hiện theo quy định sau:
1. Không được quảng cáo lẫn vào nội dung của xuất bản phẩm điện tử dưới mọi hình thức;
2. Thực hiện theo quy định của pháp luật về quảng cáo và các quy định pháp luật có liên quan.

Điều 53. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử

1. Nhà xuất bản có trách nhiệm:
a) Thực hiện quy định tại các điều 18, 19, 21, 22, 23, 24, 27, 48, 49, 50, 51 và 52 của Luật này;
b) Đảm bảo nội dung xuất bản phẩm phát hành đúng với nội dung xuất bản phẩm nộp lưu chiểu;
c) Thực hiện các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn việc can thiệp vào nội dung xuất bản phẩm hoặc loại bỏ xuất bản phẩm trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
d) Dừng việc phát hành xuất bản phẩm khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
e) Kiểm tra, giám sát nội dung xuất bản phẩm được liên kết xuất bản với các tổ chức, cá nhân.
2. Đối tác liên kết xuất bản có trách nhiệm:
a) Thực hiện quy định tại các điều 23, 48, 49, 50  và 52 của Luật này;
b) Thực hiện đúng nội dung xuất bản phẩm đã được tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản ký duyệt;
c) Thực hiện các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn việc can thiệp vào nội dung xuất bản phẩm hoặc loại bỏ xuất bản phẩm trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
d) Dừng việc phát hành xuất bản phẩm khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
3. Tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm có trách nhiệm:
a) Thực hiện đúng quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 Điều này;
b) Thực hiện đúng văn bản chấp thuận của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc phát hành xuất bản phẩm điện tử.
4. Cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản tài liệu điện tử không kinh doanh có trách nhiệm:
a) Thực hiện đúng quy định tại khoản 6 Điều 25 của Luật này;
b) Thực hiện các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn việc can thiệp vào nội dung xuất bản phẩm hoặc loại bỏ xuất bản phẩm trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
5. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trên môi trường mạng Internet và mạng viễn thông tại Việt Nam có trách nhiệm:
a) Thực hiện quy định tại các điểm c, d  khoản 2 Điều này;
b) Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ hoặc yêu cầu tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ phải thực hiện đúng quy định về sở hữu trí tuệ khi đăng tải xuất bản phẩm.

Điều 54. Nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử

Tổ chức, cá nhân nhập khẩu xuất bản phẩm điện tử để kinh doanh hoặc phổ biến phải được cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản cho phép.

Điều 55. Xử lý vi phạm

1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại các điều 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54 thì bị xử lý theo quy định tại các điều 31 và 47 của Luật này.
2. Xuất bản phẩm điện tử có vi phạm bị đưa ra khỏi phương tiện điện tử và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 56. Hướng dẫn thi hành về xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử

Chính phủ quy định chi tiết hoạt động xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử phù hợp với từng giai đoạn phát triển công nghệ.

Chương VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 57. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 và thay thế Luật Xuất bản ngày 03 tháng 12 năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản ngày 03 tháng 6 năm 2008.

Điều 58. Điều khoản chuyển tiếp

Nhà xuất bản đã được thành lập và hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không cần làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép hoạt động xuất bản theo quy định của Luật này.

Điều 59. Quy định chi tiết thi hành

Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.

Luật sưLuật Xuất bảnvăn bản luật pháp
Comments (0)
Add Comment